Kế toán và chuyện chênh lệch tỷ giá

Thông tư 200/2014/TT-BTC được ban hành ngày 22/12/2014 và có hiệu lực cho năm tài chính từ ngày 01/01/2015. Tới hiện tại đã được gần 5 năm kể từ khi Thông tư có hiệu lực, và kế toán vẫn còn cãi nhau về việc sử dụng tỷ giá mua, hay tỷ giá bán chuyển khoản.

Thực ra đã một thời gian rất dài rồi, tớ không còn có khái niệm là tỷ giá mua chuyển khoản hay tỷ giá bán chuyển khoản. Khi nhắc tới tỷ giá áp dụng cho việc ghi nhận kế toán, trong đầu tớ chỉ liên tưởng tới ba loại tỷ giá: tỷ giá ghi sổ, tỷ giá thực tế tại ngày diễn ra giao dịch và tỷ giá sử dụng để đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại ngày lập báo cáo tài chính.

Tỷ giá mua hay tỷ giá bán chuyển khoản, suy cho cùng, cũng chỉ là một dạng của tỷ giá thực tế tại ngày diễn ra giao dịch. Và bạn biết điều gì không, tỷ giá thực tế thì đáng lẽ không nên phức tạp như vậy.

Tớ biết kế toán vốn dĩ là một thứ thực sự rất phức tạp. Kế toán có thể được ví như một môn khoa học trong việc thu thập, xử lý và trình bày thông tin. Nói như vậy để thấy báo cáo tài chính đòi hỏi một sự chính xác rất cao. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc là chúng ta cần phải phức tạp hóa tất cả những thứ đơn giản. Có những thứ phức tạp nhưng mang lại giá trị thực sự, và cũng có những thứ phức tạp nhưng lại chẳng mang lại giá trị gì đáng kể.

Đối với tớ, tỷ giá mua và tỷ giá bán chuyển khoản là một thứ phức tạp nhưng ít mang lại giá trị cho kế toán. Mà phàm là cái gì ít giá trị thì chúng ta nên bỏ đi.

Theo đánh giá của tớ, quy định về tỷ giá mua và tỷ giá bán trong kế toán chênh lệch tỷ giá là một quy định không mang lại hiệu quả như những gì mà những nhà soạn thảo thông tư mong đợi. Lợi ích từ sự chính xác của số liệu kế toán thì chưa rõ tới đâu, nhưng rõ ràng là quy định này khiến cho kế toán gặp khó khăn rất nhiều trong thực tế công việc.

Chẳng vậy mà ngày 21/03/2016, tức là chỉ sau một năm áp dụng, Bộ Tài Chính đã phải ban hành thông tư 53/2016/TT-BTC để sửa đổi lại nội dung về chênh lệch tỷ giá quy định tại thông tư 200.

Cái sự phức tạp của thông tư 200, không đơn thuần đến từ các quy định về tỷ giá mua và tỷ giá bán chuyển khoản, mà một phần đến từ sự thiếu nhất quán trong việc xây dựng các quy định của Thông tư.

Hãy cùng phân tích một ví dụ sau:

Công ty A mua một dây chuyền sản xuất X từ công ty B với giá trị 12.000 USD. Ngày 01/04/N, Công ty A ứng trước cho Công ty B toàn bộ giá trị tài sản (12.000 USD). Ngày 01/09/N, Công ty B bàn giao dây chuyền sản xuất trên cho Công ty A.

Câu hỏi đặt ra là: dây chuyền sản xuất X được ghi nhận trên báo cáo tài chính theo tỷ giá nào?

Chúng ta có thể dễ dàng kết luận tài sản X cần được ghi nhận theo tỷ giá giao dịch thực tế tại ngày 01/04/N (tức thời điểm ứng trước cho Công ty B). Vấn đề đặt ra ở đây là, tỷ giá thực tế lúc này là tỷ giá mua hay tỷ giá bán?

Khoản 1.3, điều 69 thông tư 200 quy định về nguyên tắc xác định tỷ giá giao dịch thực tế như sau:

“Đối với các giao dịch mua sắm tài sản hoặc các khoản chi phí được thanh toán ngay bằng ngoại tệ (không qua các tài khoản phải trả), tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá mua của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thực hiện thanh toán.”

Tại ngày 01/04/N, giao dịch tạm ứng tiền cho nhà cung cấp tạo thành một khoản mục tài sản trên báo cáo tài chính (Trả trước cho nhà cung cấp), đồng thời giao dịch này được thanh toán ngay bằng tiền (thay vì ghi công nợ phải trả nhà cung cấp), do vậy, có thể hiểu là giao dịch này thỏa mãn các điều kiện trong đoạn 1.3, điều 69 thông tư 200 như đã trích dẫn ở trên.

Điều này dẫn tới kết luận là khoản tạm ứng cho nhà cung cấp được ghi nhận theo tỷ giá mua chuyển khoản. Giá trị của dây chuyền X được ghi nhận theo giá trị của khoản tạm ứng và do vậy, cũng được ghi nhận theo tỷ giá mua chuyển khoản. Điều này phản ánh đúng bản chất của giao dịch là đây là một giao dịch trả tiền ngay.

Kết luận này tương tự với việc, tại ngày 01/04/N, Công ty A thanh toán tiền, đồng thời ghi tăng dây chuyền sản xuất nhận được từ B.

Trên quan điểm của tớ, việc Công ty A nhận tài sản ngay tại ngày 01/04/N hay là nhận tài sản sau đó 5 tháng không ảnh hưởng tới bản chất của giao dịch và do vậy, không ảnh hưởng tới tỷ giá ghi nhận tài sản. Đây là một giao dịch thanh toán ngay.

Tuy nhiên, tại khoản 1c), điều 51 thông tư 200 lại quy định về nguyên tắc kế toán tài khoản 331 – Phải trả người bán như sau:

“Riêng trường hợp phát sinh giao dịch ứng trước tiền cho nhà thầu hoặc người bán thì bên Nợ tài khoản 331 áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế (là tỷ giá bán của ngân hàng nơi thường xuyên có giao dịch) tại thời điểm ứng trước;”

Rõ ràng, giữa điều 69 và điều 51 của thông tư 200 lúc này có một sự mâu thuẫn trong việc xác định tỷ giá sử dụng đối với khoản tạm ứng cho nhà cung cấp. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, số dư nợ tài khoản 331 là một khoản mục tài sản trên báo cáo tài chính. Và khoản mục này không có tính chất của một khoản công nợ. Vì vậy, trên quan điểm của mình, tớ nghĩ rằng việc thông tư quy định sử dụng tỷ giá bán để ghi nhận khi doanh nghiệp ứng trước tiền cho nhà cung cấp là không thực sự hợp lý.

Đến đây, có thể mọi người vẫn chưa cảm thấy thuyết phục? Vậy chúng ta hãy cùng mổ xẻ tiếp tình huống dưới đây:

Vẫn là Công ty A và Công ty B. Tại ngày 01/04/N, Công ty A thanh toán cho Công ty B số tiền 12.000 USD, nhưng lần này số tiền được trả trước cho việc thuê văn phòng trong vòng 1 năm kể từ ngày 01/09/N.

Có thể dễ dàng nhận thấy bút toán hạch toán tại ngày 01/04/N như sau:

Nợ TK 242: 12.000 USD x tỷ giá mua chuyển khoản ngày 01/04
Nợ TK 635: Nếu phát sinh lỗ chênh lệch tỷ giá
Có TK 112: 12.000 USD x tỷ giá ghi sổ của tài khoản tiền
Có TK 515: Nếu phát sinh lãi chênh lệch tỷ giá

Đối với trường hợp ghi nhận chi phí trả trước, có thể dễ dàng đi tới kết luận sử dụng tỷ giá mua chuyển khoản cho việc ghi nhận đối với khoản mục này.

Vậy cây hỏi đặt ra là, khoản mục “Trả trước cho người bán” và khoản mục “Chi phí trả trước” có bản chất kế toán giống hay khác nhau?

Với toàn bộ các hiểu biết về kế toán của mình, tớ có thể khẳng định bản chất của hai khoản mục này là như nhau. Một là ứng trước tiền cho việc nhận được hàng hóa trong tương lai (Trả trước cho người bán), và một là ứng trước tiền cho việc nhận được dịch vụ trong tương lai (Chi phí trả trước).

Vậy nhưng, theo thông tư 200 thì cách xử lý kế toán liên quan tới chênh lệch tỷ giá của hai khoản mục này hoàn toàn khác nhau. Việc còn lại thì tớ để cho mọi người tự đánh giá.

Đó, nói vậy để thấy, việc dân kế toán cứ loạn cào cào lên, lúc thì tỷ giá mua, lúc thì tỷ giá bán không biết đằng nào mà lần, nhiều khi chưa hẳn đã là do lỗi của họ. Mà ngay từ trong thông tư, đã tồn tại những điều mâu thuẫn với nhau, mà chẳng dựa trên một nguyên tắc thống nhất nào cả rồi. Mà như vậy, muốn để người làm công tác thực tế hiểu được các nguyên lý đằng sau nó, thực sự khó lắm.

Vậy nên, mỗi khi có ai đó hỏi tớ về việc họ nên sử dụng tỷ giá mua hay tỷ giá bán trong trường hợp này, câu trả lời của tớ vẫn luôn là hãy sử dụng tỷ giá trung bình, bởi vì chỉ có tỷ giá trung bình mới là chân ái.

Một số khóa học nổi bật

9 bình luận về “Kế toán và chuyện chênh lệch tỷ giá”

  1. Trước hết cảm ơn bạn vì nội dung và các comment của bạn trên các diễn đàn nên mình mới tìm vào đây để học hỏi thêm về bạn.
    Mình có vài ý kiến như sau:
    I. Về vấn đề tỷ giá theo TT200 (TT53 tạm thời chưa bàn):
    Theo mình các câu chữ và cách hiểu TT200 khá là chặt chẽ, rào trước đón sau, tương đối nhất quán. Để chỉ ra tại sao thế, mình lý giải các vấn đề bạn nêu ra như sau:

    1. “Đối với các giao dịch mua sắm tài sản hoặc các khoản chi phí được thanh toán ngay bằng ngoại tệ (không qua các tài khoản phải trả), tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá mua của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thực hiện thanh toán.”

    Đoạn này được hiểu là khi “thanh toán ngay” có nghĩa là DN đã có sẵn ngoại tệ rồi, không cần phải đi mua ngoại tệ của Ngân hàng nữa. Và lúc đó Có TK 112: tiền ra là tỷ giá ghi sổ. Và Nợ TK TS/CF là tỷ giá thực tế giao dịch, mà giao dịch ở đây là giao dịch DN bán ngoại tệ cho NH và NH mua ngoại tệ đó thì dùng tỷ giá mua là chính xác rồi.
    Cần nói thêm, đoạn này, TT200 đã gài “không qua các tài khoản khoản phải trả”. Bạn ngẫm chỗ này xem.
    TH trả trước 100% tiền hàng, có thể coi như 1 TH đặc biệt dùng qua TK phải trả, ở đây là TK 331 (Nợ 331) nhưng bản chất là mua trả ngay như bạn nói chỉ là chưa giao hàng luôn, nên dùng tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá mua NHTM là OK.
    2. Đoạn này: “Riêng trường hợp phát sinh giao dịch ứng trước tiền cho nhà thầu hoặc người bán thì bên Nợ tài khoản 331 áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế (là tỷ giá bán của ngân hàng nơi thường xuyên có giao dịch) tại thời điểm ứng trước;”
    => Đoạn này phải hiểu trong bối cảnh DN không có đủ tiền trả ngay 100% nên trả từng phần. Có 2 TH: 1, là DN ko có 1 xu ngoại tệ nào phải đi mua của NH để thanh toán trả trước thì tỷ giá thực tế giao dịch là TG bán của NHTM là ok; 2, là DN có ngoại tệ nhưng chỉ trả trước 1 phần công nợ trong tổng số 100% giá trị tiền hàng thì TT200 nói dùng tỷ giá bán của NHTM (có thể là nguyên tắc thận trọng chăng? vì liên quan đến TK phải trả) chỗ này theo mình phải là tỷ giá giao dịch thực tế của nghiệp vụ này vì doanh nghiệp có ngoại tệ, không phải đi mua.

    Ví dụ:

    – Ngày 1/6/2020 thanh toán trước 1 phần (như đã nói có 2 TH nhỏ trên)

    – Ngày 11/6/2020 hàng về đến cảng Hải phòng (ghi tỷ giá bán NHTM của phần phải trả còn lại)

    – Ngày 20/6/2020 Thanh toán nốt số tiền còn lại cho nhà cung cấp (tỷ giá giao dịch thực thế tại ngày trả)
    3. Còn bản chất TK 242 trả trước thuê vp và TK trả trước Nợ 331
    Nợ TK 331 bản chất là nó là phần của giá vốn sau này nên (nếu k có dấu hiệu hủy hợp đồng mua bán) thì ghi theo tỷ giá thực tế giao dịch không đánh giá lại. Nó là cấu thành nên giá vốn tương lai đối với khoản trả trước tiền hàng.
    Nợ TK242 có thể là cấu thành giá vốn, có thể chỉ là CF QLDN (thuê văn phòng). Nó khác nhau ở bản chất hoàn toàn dựa vào cách sử dụng như đã nói trên, sau này chi phí vào đâu.

    Vài lời góp ý mong cùng thảo luận.

    Trả lời
    • Chào bạn Hong Tran.

      Cám ơn bạn đã dành thời gian đọc bài cũng như để lại bình luận tại blog này. Cũng lâu rồi tớ chưa nhận được bình luận nào dài như vậy.

      Điều đầu tiên thì tớ đồng ý với các diễn giải của bạn ở trên. Các bác trên bộ khi soạn thảo thông tư đều có cái lý riêng của các bác ấy. Cái mà tớ đang thảo luận ở đây đó là tính hiệu quả trong việc áp dụng thực tế.

      Thực tế thì thế giới họ chỉ áp dụng chuẩn mực kế toán, thay vì chế độ kế toán giống như Việt Nam. Và trên góc độ của chuẩn mực, họ chỉ đưa ra định nghĩa về tỷ giá giao dịch thực tế, còn việc lựa chọn và quyết định tỷ giá này như thế nào là ở doanh nghiệp. Và bạn thấy không, kể cả khi không có quy định chi tiết về tỷ giá mua, tỷ giá bán, cũng chẳng ai nói số liệu kế toán của họ là không đáng tin cậy cả.

      Trên góc độ của chuẩn mực, họ thậm chí cho phép doanh nghiệp sử dụng tỷ giá trung bình ngày, trung bình tuần, trung bình tháng. Có nghĩa là khác biệt là vẫn sẽ có, nhưng họ đánh giá là lợi ích từ việc này mang lại sẽ lớn hơn rất nhiều so với chi phí triển khai. Vậy nên, tớ không nghĩ cái chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán nó lớn tới mức bóp méo số liệu tài chính của một doanh nghiệp. Bởi vì suy cho cùng, tất cả chỉ là ước tính. Mà ước tính cho dù có tốt với đâu, vẫn sẽ có sự khác biệt so với thực tế.

      Về mặt diễn giải của bạn ở trên, tớ vẫn phải nói một điều là nó quá phức tạp. Số lượng kế toán có thể hiểu rõ tinh thần của thông tư, tớ khẳng định là không nhiều đâu. Đa phần kế toán sẽ chủ yếu là dựa vào câu từ. Mà câu từ của Thông tư thì như tớ đã phân tích trong bài viết là có sự mâu thuẫn với nhau.

      Tất nhiên, khi bạn hiểu đúng và áp dụng vào doanh nghiệp của mình thì sẽ không có vấn đề gì. Nhưng đứng trên góc độ tư vấn thì khác. Khách hàng họ tin mình là một chuyện, còn họ không tin thì rất khó để giải thích như diễn giải này, bởi vì nó không được quy định rõ trong câu chữ của Thông tư.

      Mà đã không quy định rõ, thì có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Không phải ai cũng có thời gian để mà mổ xẻ để tìm ẩn ý đằng sau đấy và do vậy, mô hình chung là mọi người sẽ áp dụng đúng với câu chữ của Thông tư, như những thứ mà tớ đã nói trong bài viết ở trên.

      Ở ý hai trong bình luận của bạn, bạn cũng tự đặt ra câu hỏi (có thể là do nguyên tắc thận trọng). Nghĩa là bạn cũng đang phải tìm cách giải nghĩa hợp lý nhất cho các quy định hiện hành. Mà cái gì đã hợp lý, thì chúng ta sẽ không cần phải cố gắng để giải nghĩa đâu.

      Nếu như bạn thấy số lượng các bài viết mỗi năm trên các diễn đàn kế toán để hỏi đáp về chênh lệch tỷ giá, phần lớn vẫn chỉ là câu chuyện giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán thì sẽ thấy trong thực tế, quy định này đang làm khó kế toán như thế nào.

      Quốc tế, khi họ thay đổi một nội dung trong chuẩn mực, thì khi nội dung đó có hiệu lực, các nội dung cũ sẽ không còn tồn tại nữa. Còn Việt Nam, là thông tư sửa đổi thông tư, và cái cũ sẽ còn tồn tại trong một thời gian dài.

      Điều cuối cùng thì tớ không đồng ý với điểm cuối cùng trong bình luận của bạn. Ứng trước tiền mua ô tô phục vụ quản lý chẳng hạn, thì vẫn là phục vụ cho mục đích quản lý. Và cho dù là chi phí giá vốn, bán hàng hay quản lý doanh nghiệp thì cũng đều là chi phí của doanh nghiệp và do vậy, cần được đối xử kế toán như nhau. Tớ chưa thấy có lý do gì để chi phí giá vốn có sự đối xử kế toán khác với các chi phí còn lại trong kế toán chênh lệch tỷ giá cả.

      Trả lời
  2. cảm ơn bài viết của anh Long,
    anh Long có thể tư vấn giúp em trường hợp này. Có một số đơn vị lập báo cáo tài chính theo tháng hoặc quý và họ thực hiện đánh giá chênh lệch tỉ giá cuối môi tháng/quý và kết chuyển vào doanh thu/chi phí tài chính kì đó. Ở kì sau có cần hạch toán ngược lại bút toán đánh giá chênh lệch tỉ giá của kì trước đó hay không anh

    Trả lời
    • Chào Hoàng.

      Chênh lệch tỷ giá cuối kỳ sẽ được ghi nhận tại thời điểm lập báo cáo tài chính. Trong trường hợp doanh nghiệp có lập báo cáo tài chính giữa niên độ thì doanh nghiệp có thể thực hiện theo cách sau:

      1. Chênh lệch tỷ giá của tháng/quý sau sẽ được tính toán bằng cách so sánh giá trị hiện tại với giá trị sau khi đã đánh giá lại của tháng/quý trước.

      Ví dụ: tài sản trước khi đánh giá lại có giá trị là 10. Quý 1 đánh giá lại giá trị là 12, ghi nhận lãi là 2. Sang quý 2 đánh giá lại giá trị là 11, ghi nhận lỗ là 1.

      Công ty không hoàn nhập lại bút toán của quý trước. Tức là không điều chỉnh lại giá trị tài sản về là 10 và ghi nhận lãi là 1.

      Tại báo cáo tháng hoặc quý, mức lãi lỗ được báo cáo là giá trị thuần, sau khi đã bù trừ giữa lãi và lỗ chênh lệch tỷ giá.

      2. Tại thời điểm lập báo cáo cuối năm, doanh nghiệp tính toán mức lãi lỗ dựa trên chênh lệch giá trị tại thời điểm cuối năm và đầu năm mà không cộng gộp các khoản lãi lỗ trên báo cáo giữa niên độ.

      Ví dụ, đến cuối năm, công ty sẽ ghi nhận lãi chênh lệch tỷ giá là 1 thay vì ghi nhận lãi chênh lệch tỷ giá là 2 và lỗ chênh lệch tỷ giá là 1.

      Trả lời
      • hi anh Long, như vậy khi đánh giá chênh lệch tỉ giá cuối năm thì các khoản lãi/lỗ do đánh giá chênh lệch tỉ giá cuối tháng/quý cần được bù trừ, không trình bày trên kết quả kinh doanh

        Trả lời
        • Chào Hoàng.

          Nếu nói chính xác hơn thì là chênh lệch lãi lỗ giữa các tháng/quý sẽ được bù trừ với nhau và chỉ trình bày phần thuần là lãi hoặc lỗ trên báo cáo kinh doanh cuối năm.

          Trả lời

Viết một bình luận